Tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc – Phần 2

Loading...

Tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc – Phần 2

II. TÍNH DÂN TỘC TRÊN PHƯƠNG DIỆN PHƯƠNG THỨC  TRONG BÀI THƠ "VIỆT BẮC" 
Nếu xét về hình thức nghệ thuật thì tính dân tộc trong nghệ thuật của thơ Tố Hữu được thể hiện ở những nét chính sau đây: ngôn ngữ, nhạc điệu, hình ảnh, thể thơ đậm đà tính dân tộc.Lối cấu tứ, kết cấu giàu sắc thái ca dao,thể thơ dân tộc được vận dụng nhuần nhuyễn và sáng tạo
 

Loading...
1. Ngôn ngữ:
 
Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học. Tính dân tộc trong ngôn ngữ được thể hiện một cách đặc sắc trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Đó là ông đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo cặp đại từ nhân xưng “mình, ta” của ca dao xưa. Ở bài thơ Việt Bắc các cặp đại từ “mình, ta” được sử dụng một cách hết sức sinh động và linh hoạt mang nhiều sắc thái ngữ nghĩa. Cách xưng hô “mình, ta” trong lời đối đáp vốn là cách xưng hô của những đôi bạn tình trong ca dao tình yêu: 
 
Mình về mình có nhớ ta 
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
 
Ở đây người Việt Bắc và người cán bộ kháng chiến đã coi nhau như những người bạn tình, người bạn đời từng gắn bó tri kỷ suốt mười lăm năm thiết tha sâu nặng. Vì thế nhà thơ đã để cho họ xưng hô là “mình” với “ta” rất ngọt ngào thắm thiết. Trong bài thơ đã có một sự chuyển hoá giữa hai nhân vật trữ tình Mình – Ta và có sự sáng tạo của nhà thơ trên cơ sở ngôn ngữ truyền thống khi sử dụng hai đại từ này: 
 
Mình về mình có nhớ ta 
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng 
Mình về mình có nhớ không 
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn? 
 
Nhưng ở những câu hỏi dồn dập tiếp theo, có một câu hỏi đọng lại nhiều băn khoăn, day dứt mà cũng rất nặng nghĩa nặng tình: 
 
Mình đi, mình có nhớ mình 
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
 
Tố Hữu đã thêm hương sắc cho từ “mình” của ca dao, “mình” và “ta” tuy hai là một. Điều này nói lên sự gắn bó sâu nặng giữa quê hương Việt Bắc và người cán bộ kháng chiến, giữa nhà thơ với chiến khu cách mạng. Phải chăng đây cũng chính là sự phân thân của chủ thể trữ tình là nhà thơ đang đắm mình trong dòng hoài niệm thiết tha: 
 
– Ta với mình, mình với ta 
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh 
Mình đi , mình lại nhớ mình 
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.
 
Mượn cách xưng hô “mình – ta” của ca dao xưa Tố Hữu đã đem lại cho bài thơ Việt Bắc một vẻ đẹp riêng khiến cho bài thơ vừa dồi dào sắc thái trữ tình đời thường với những lời dặn dò, nhắn nhủ hứa hẹn, thề nguyền rất riêng tư, lại vừa đậm đà sắc thái dân tộc, đồng thời diễn đạt được một tình yêu rộng lớn sâu sắc, mang tính khái quát, mang yếu tố trữ tình sử thi. Đó là tiếng nói của tình yêu nước. 
 
Trong bài thơ Việt Bắc, Tố Hữu đã vận dụng một cách nhuần nhị và tài tình cách nói tu từ phong phú, tế nhị mà giàu sức biểu đạt của ca dao dân ca xưa. Ngoài việc vận dụng đại từ nhân xưng trong ca dao ông còn trở về với cội nguồn dân gian của dân tộc bằng cách mượn ý những câu ca dao, tục ngữ hay sáng tạo những câu thơ theo hơi hướng ca dao. Câu thơ: “Mình về mình có nhớ không / Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?” lấy ý từ câu tục ngữ quen thuộc: “Uống nước nhớ nguồn”. Thơ ca dân gian hay viết về nỗi nhớ nhung, Việt Bắc của Tố Hữu cũng vậy: 
 
Nhớ gì như nhớ người yêu 
Nhớ từng bản khói cùng sương… 
Nhớ từng rừng nứa bờ tre… 
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng… 
 
Nhớ những cảnh quân đi điệp điệp trùng trùng, nhớ một buổi họp Trung ương, lớp học i tờ, một vầng trăng thu…Đó là tất cả những kỉ niệm đáng nhớ trong kháng chiến nên nó có gì đó gần gũi với nỗi nhớ da diết đến cháy lòng. 
Nhớ nhung là một trạng thái tình cảm thường xảy ra mà ai cũng có thể bắt gặp. Trong bài thơ Việt Bắc, nỗi nhớ đa dạng, bát ngát, mênh mông. Nó cụ thể mà bao quát, gần gũi mà thiêng liêng, tha thiết mà không bi lụy. Những câu thơ nhắc đến những địa danh của đất nước cũng gợi ta nhớ đến những câu thơ trong ca dao.
Ngoài ra, ta có thể nhận thấy ngôn ngữ trong thơ Tố Hữu là ngôn ngữ giản dị đời thường gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân ta. Không có những điển tích, điển cố những sáo ngữ, tất cả cứ như từ cuộc sống ào ạt vào trang thơ mà “thơ” đến lạ kì: 
 
Thương nhau, chia củ sắn lùi 
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng 
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng 
Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô 
Nhớ sao lớp học i tờ 
Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
 
Những củ sắn lùi, bắp ngô, bát cơm, chăn sui…những điều bình thường giản dị thậm chí “xoàng xĩnh” của cuộc sống tưởng rằng không bao giờ được đem vào thơ nhưng vẫn được Tố Hữu lựa chọn. Như vậy, có thể nhận thấy, ngôn ngữ trong bài thơ Việt Bắc nói riêng và trong thơ Tố Hữu nói chung là ngôn ngữ của dân tộc được bắt nguồn từ cội nguồn văn học dân gian Việt Nam và từ cuộc sống đời thường. Thế nên, nó dễ làm rung động trái tim con người bởi đó là ngôn ngữ của dân tộc, tiếng Việt của người Việt Nam. 
 
2. Thể thơ:
 
Việt Bắc được viết theo thể thơ lục bát với lối kết cấu như lời đối đáp của một đôi trai gái lúc xa nhau. Lục bát là thể thơ dân tộc, nó ăn sâu bắt rễ trong nhân dân mang cốt cách thuần túy Việt Nam. Đơn vị cơ bản của nó là một khổ thơ (gồm hai câu, một câu lục và một câu bát)chiếm hai dòng thơ với số tiếng (chữ) cố định mười bốn chữ có thể có từ hai đến hàng nghìn câu thơ. Tố Hữu đã vận dụng điêu luyện sáng tạo thể thơ lục bát, mang âm điệu dịu dàng duyên dáng của ca dao dân ca. Tiếng hát tiếng ngâm lời ru đã cất cánh cho thơ Tố Hữu bay đến mọi miền của đất nước. Tố Hữu là nhà thơ cách mạng phát triển thơ trữ tình điệu nói trong lĩnh vực thơ chính trị công dân đưa tiếng nói thơ ca cách mạng vào trong thơ, nâng tiếng nói tâm tình đời tư thành tiếng nói tâm tình chính luận. Trong bài thơ tác giả sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất: mình, ta để bộc lộ thái độ, tư tưởng, tình cảm. Thể thơ lục bát với những ưu thế của nó đã giúp tác giả chuyển tải được những tình cảm thiết tha của cả người đi và kẻ ở trong buổi tiễn biệt. Những câu thơ như những lời hát ru vọng lên từ thủa ấu thơ làm người đọc mãi không quên: 
 
– Mình về mình có nhớ ta 
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. 
Mình về mình có nhớ không 
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn? …
 
3. Nhạc điệu: 
 
Tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc còn thể hiện ở nhạc điệu, cách gieo vần. Giáo sư Đặng Thai Mai nhận xét: “Tố Hữu là nhà thơ đã vận dụng âm điệu và âm hưởng của tiếng Việt một cách hết sức tài tình.”Âm điệu thơ của Tố Hữu có đặc trưng riêng đó là sự ngọt ngào, tha thiết. Nó mượt mà, uyển chuyển, đằm thắm như lời ru của mẹ bằng lối đối đáp ân tình. Chất nhạc ngoài tài nghệ phối thanh còn ở cách gieo vần. Một nhà thơ giàu từ ngữ và am tường sâu sắc luật thơ. Có thể nói rằng nhạc điệu là yếu tố đi liền với ngôn ngữ và hình ảnh thơ. Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng nói: “Tố Hữu có một hơi thơ dân tộc trong âm điệu”. Có được điều ấy bởi lẽ Tố Hữu là nhà thơ có biệt tài trong việc phối hợp các âm thanh, từ ngữ, tiết tấu, vần điệu của ngôn ngữ tiếng Việt để tạo nên một ngôn ngữ thơ rất giàu nhạc điệu, có thể chứa đựng cảm xúc dân tộc, thể hiện được tâm hồn dân tộc qua từng giai đoạn cách mạng. Nhưng nhạc điệu trong thơ Tố Hữu là nhạc điệu sống mãi với lòng người, làm rung động cả trái tim và khối óc người nghe. “Điệu dân tộc Tố Hữu đã biết đặt quả tim dân tộc sau âm thanh là có cả một tâm hồn” – Xuân Diệu. Chính vì vậy mà nhạc điệu trong thơ Tố Hữu mãi ngân nga trong lòng tâm hồn tác giả. Bởi “Thơ là đi giữa nhạc và ý, rơi vào cái vực ý thì thơ sâu nhưng lại dễ khô khan. Nếu rơi vào vực nhạc thì thơ dễ làm đắm say lòng người nhưng không khéo lại nông cạn” Việt Bắc là điệp khúc của nỗi nhớ: 
 
– Mình đi, có nhớ những ngày 
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù 
Mình về, có nhớ chiến khu 
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai? 
Mình về, rừng núi nhớ ai 
Trám bùi để rụng, măng mai để già 
Mình đi, có nhớ những nhà 
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son 
Mình về, còn nhớ núi non 
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh 
Mình đi, mình có nhớ mình 
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa? 
 
Chính nhạc điệu đã làm cho các kỷ niệm trở nên ngân nga, trầm bổng réo rắt, thấm sâu vào tâm tư. Những yếu tố làm nên chất nhạc kỳ diệu ấy không chỉ ở những câu lục bát rất chuẩn về thanh luật mà còn ở nghệ thuật tiểu đối được sử dụng với tần số cao trong các câu thơ. Nó không chỉ có khả năng biểu đạt rất xúc động nỗi lòng sâu kín bồi hồi của người đi kẻ ở, mà còn tạo ra sự tương xứng về cấu trúc, vẻ đẹp nhịp nhàng của ngôn từ. “Mưa nguồn suối lũ / những mây cùng mù; Miếng cơm / mối thù; Trám / măng; Hắt / son; Nhớ / mình; Tân / đa”. Những hình ảnh thơ đã thực sự cất lên chất thơ nhờ nhạc điệu đầy quyến luyến, trầm bổng, ngân nga qua những câu thơ sóng đôi lối đối xứng tiểu đối, nó mang vẻ đẹp cổ điển uyên bác. Đặc biệt câu hỏi cuối đoạn thơ có thể tách riêng ra bởi sự thâm thúy, hàm súc: 
 
Mình đi mình có nhớ mình 
Tân Trào Hồng Thái mái đình cây đa 
 
Đại từ “mình”, “ta” vốn được sử dụng trong đối đáp thơ ca dân gian nay được Tố Hữu sử dụng đầy biến ảo: Khi mình là Ta, khi “ta” là “mình”, cái ngầm ý hai ta là một đã rõ. Nhưng ở đây một câu lục mà tới ba lần lặp lại chữ mình: “Mình đi, mình có” là chỉ người về, “nhớ mình” là chỉ người ở. Câu hỏi đầy ý nhị mà sâu kín: Mình quên “ta” cũng là quên chính “mình” đó. Cũng như ở phần sau, Tố Hữu lại nhấn theo lối bồi thấn trong câu thơ trả lời khẳng định sắt son. 
 
Mình đi mình lại nhớ mình 
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu
 
Nhà thơ đã khai thác rất đắt chữ “mình” trong tiếng Việt. “mình” vừa là bản thân vừa là ta, “mình” cũng là người thân thiết có thể xem như chính mình vậy. Đại từ nhân xưng được sử dụng vừa thống nhất vừa biến hoá khiến Việt Bắc cất lên như tiếng lòng đồng vọng bản hoà âm tâm hồn của kẻ ở người đi. Như vậy, biệt tài của Tố Hữu là ru người trong nhạc, đánh thức con người bằng ý thơ và chế biến ý tưởng cách mạng thành thức ăn của tâm hồn. 
 
4. Hình ảnh thơ: 
 
Đến với thơ Tố Hữu, ta bắt gặp những hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống dân tộc, gần gũi với cuộc sống lao động và chiến đấu của nhân dân.Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng nhận xét: “Tố Hữu có một bút pháp quần chúng trong hình ảnh”. Bút pháp quần chúng ấy đã góp phần làm nên sắc thái dân tộc đậm đà trong thời Tố Hữu. Đó là hình ảnh trám bùi, măng mai, cảnh trăng lên đầu núi, bếp lửa nhà sàn…hết sức nồng ấm và luôn ăn sâu trong tâm khảm của con người Việt Nam: 
 
Mình về rừng núi nhớ ai 
Trám bùi để rụng, măng mai để già 
Mình đi có nhớ những nhà 
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son… 
Nhớ gì như nhớ người yêu 
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương 
Nhớ từng bản khói cùng sương 
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
 
Có lẽ trước đó trong thơ Việt Nam, những hình ảnh hết sức quen thuộc với cuộc sống hằng ngày, tưởng như chẳng có gì đáng nói, lại đi vào thơ nhiều như vậy. Tất cả đã ùa vào thơ Tố Hữu một cách tự nhiên thoải mái để tạo nên một không khí dân tộc đậm đà. Và điều đáng nói hơn là dưới ngòi bút miêu tả tài tình của nhà thơ, chúng đã trở thành những hình tượng thơ sinh động, giàu xúc cảm đem đến cho người đọc những xúc cảm sâu xa. Thơ Tố Hữu là thơ viết cho đại chúng, và điều làm nên “bút pháp quần chúng” trong thơ ông không chỉ vì những hình ảnh ấy quen thuộc, dễ hiểu, giản dị mà còn vì nó rất giàu sức biểu cảm cho nên dễ lắng sâu và lưu lại trong lòng bao thế hệ bạn đọc. 
 
Targo từng nói: “Trách nhiệm của nhà thơ là thể hiện rõ bản sắc của dân tộc mình trước thế giới.”. Tố Hữu đã làm được điều đó hơn nữa đã làm một cách rất xuất sắc. Trên những trang thơ của ông mà tiêu biểu là bài thơ Việt Bắc là hình ảnh của thiên nhiên, con người Việt Nam. Những con người nghĩa tình, thủy chung son sắt dù trải bao khó khăn gian khổ vẫn luôn lạc quan, hướng về tương lai. Những con người Việt Nam hồn hậu, hiền lành nhưng rát anh dũng trong chiến đấu. Đó là hình ảnh đất nước Việt Nam tươi đẹp với núi, với sông với những tên đất, tên miền mang hồn thiêng của dân tộc nhưng cũng khắc nghiệt, chứa đầy bao hiểm nguy. Đọc Việt Bắc, ta có cảm giác như được nghe những lời ru từ thủa nhỏ của bà của mẹ bởi nhịp thơ lục bát uyển chuyển, mềm mại. Bởi ngôn ngữ bắt rễ từ văn học dân . Bởi những hình ảnh thơ gần gũi, thân thương nhưng cũng rất đỗi nên thơ. Tố Hữu thực sự đã mang hồn thiêng núi sông, tâm hồn dân tộc lên những lời thơ Việt Bắc. Bài thơ xứng đáng là một tác phẩm tiêu biểu của nền văn học Việt Nam.
 

Bạn muốn xem thêm ?

Loading...