ĐẶC TRƯNG THI PHÁP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VN – PHẦN 2

Loading...
Soạn bài online – Văn học Trung Đại VN

ĐẶC TRƯNG THI PHÁPVĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM – PHẦN 2

B. THIÊN NHIÊN TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI:   
      1. Thiên nhiên có địa vị danh dự trong văn chương:    

    a. Đi vào vũ trụ văn chương của cha ông xưa, người đọc như được sống giữa thế giới tạo vật thiên nhiên non nước hữu tình vừa tịch lặng vừa hòanh tráng. Trong sáng tác của các nhà thơ, nhà văn trung đại hình như không thể vắng bóng thiên nhiên. Thiên nhiên làm nên diện mạo, linh hồn của tác phẩm. Thiên nhiên biểu hiện cảm quan vũ trụ, mỹ cảm và tư tưởng triết học phương Đông của các nghệ sĩ Nho học này.    

    b. Riêng thi ca, thơ tức cảnh cũng như tranh sơn thủy chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong đời sống văn nghệ thời phong kiến.
         – Hiện tượng này có thể bắt nguồn từ xã hội kinh tế nông nghiệp thô sơ của thời trung đại. Thời ấy con người sống giữa thiên nhiên. Con người trực tiếp khai thác thiên nhiên bằng bàn tay lao động của mình. Thiên nhiên là nguồn nuôi dưỡng tinh thần và vật chất cho con người. Thiên nhiên có mặt trong cuộc sống gia đình, xã hội của cư dân của nền văn hóa thảo mộc, nền văn minh lúa nước.
         – Hiện tượng nghệ thuật này cũng có thể nẩy sinh từ hệ triết học phương Đông: con người hòa đồng với vạn vật, tạo vật và con người tương sinh trong thế giới này. Và cũng có thể xuất phát từ đời sống văn hóa tín ngưỡng Tô-tem hay tín ngưỡng
phồn thực phương Đông.
 
     2. Cảm thụ thiên nhiên trong văn chương trung đại:

    a. Vì những căn cứ trên, thiên nhiên không tách khỏi con người như một khách thể trong văn chương. Con người cảm thụ thiên nhiên như là một chủ thể. Con người đã gán cho thiên nhiên những phẩm chất, thuộc tính của chính mình. Thiên nhiên chưa được khám phá với những giá trị tự thân, chưa thực sự là đối tượng hiện thực của văn  học. Người ta tìm đến với thiên nhiên và xem thiên nhiên như là một tư liệu để để ngụ tình hay giáo huấn đạo đức một cách không tự giác.

                                            Thu ăn măng trúc đông ăn giá
                                     Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao
                                                               (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
           Điều này khác với văn chương hiện đại. Văn chương hiện đại tôn trọng sự sống riêng của tạo vật thiên nhiên. Thiên nhiên được miêu tả như là một khách thể.  
    b. Từ tư tưỏng và quan niệm trên, văn chương trung đại đã miêu tả thiên nhiên theo một bút pháp đặc biệt: không tả hình xác của tạo vật mà gợi tả linh hồn của thiên nhiên. Thiên nhiên trở thành ý niệm tượng trưng, dấu hiệu tượng trưng, chứa đựng những cảm giác, cái không thấy của con người. Thiên nhiên là nơi gởi gắm những tư tưởng, tình
cảm hay triết lý của con người.
                                     Xuân đến trăm hoa nở
                              Xuân đi trăm hoa rụng
                                      …
                            Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
                            Đêm qua sân trước một nhành mai
                                                               (Mãn Giác Thiền sư)   
         – Thiên nhiên có linh hồn nên cũng sang hèn, quân tử tiểu nhân như con người. Các nhà thơ xưa không chấp nhận cái thấp hèn, những sự vật tầm thường nên thiên nhiên trong thơ họ luôn là những tạo vật cao sang. Các nhà thơ bầu bạn hay tri
âm tri kỷ với thiên tao nhã, sang trọng như: “Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong” (Hồ Chí Minh). Họ tự ví mình như cốt cách phong độ của “Mai, lan, cúc, trúc” hay “Tùng, cúc, trúc, mai”. 
                                   Quét trúc bước qua lòng suối
                            Thưởng mai về đạp bóng trăng
                                                               (Nguyễn Trãi)  
                             Hay:
                                     Nghêu ngao vui thú yên hà
                              Mai là bạn cũ hạc là người thân
                                                                  (Nguyễn Du) 
       – Họ đối lập thiên nhiên tao nhã với thiên nhiên phàm tục, tầm thường cũng là để đối lập họ với những kẻ tiểu nhân, phàm phu đắc thế:
                                  Phượng những tiếc cao diều hãy lượn

                            Hoa thường hay héo cỏ thường tươi

Loading...

                       Hoặc:

                                 Đến trường đào mận ngạt chăn thông

                             Quê cũ ưa làm chủ trúc thông

                                                                      (Nguyễn Trãi)  
    c. Do cảm thụ thiên nhiên như vậy, nên văn thơ có hai đặc tính:  
           – Thiên nhiên được cảm nhận và tái hiện một cách tinh vi như muốn khám phá linh hồn ẩn kín, bí mật của tạo vật.
                                     Thụy khởi khải song phi

                                Bất tri xuân dĩ quy

                              Nhất song bạch hồ điệp

                               Phách phách sấn hoa phi

                  dịch thơ:

                                     Ngủ dậy ngó song mây

                               Xuân về vẫn chửa hay

                            Song song đôi bướm trắng

                            Phấp phới sấn hoa bay.

                                                     (Xuân hiểu-Trần Nhân Tông) 
            – Thiên nhiên trong thơ thường được phối màu thanh đạm, đường nét thanh tao; nhưng thấm chất sống ngồn ngộn tươi rói như thiên nhiên trong cuộc sống đời thường.
                                     Đồng bằng nhô núi biếc
                               Hình thế tựa diều bay
                              Cầu vắt qua khe nước
                              Chùa nằm tít đỉnh mây

                                                     (Đề núi cánh diều-Lê Quý Đôn)      

                                     Trăng giục chèo khua sóng
                             Thanh vắng hứng càng say
                              Sương đầm hoa tươi tốt
                              Thu nhuộm núi hao gầy…
                                                   (Dạ nguyệt hành chu-Lê Hưũ Trác) 
             – Thiên nhiên luôn được tái hiện bằng cảm xúc dạt dào, tình cảm lắng sâu của người làm thơ. Những vần thơ đã trích là một thí dụ. Đọc những vầng thơ của Trần Nhân Tông, Lê Quý Đôn, Lê Hữu Trác, ta như nghe thấy hơi thở nhịp điệu tâm hồn của các thi nhân ấy. Thơ của các thi nhân ấy là tâm hồn sáng láng, nhân cách cao cả, phong thái tự tại của chính họ giữa chốn đời bụi bặm này. 
 
Xem tiếp Phần 3, Phần 4
Loading...