Bài 35: Hoàng Lê Nhất Thống Chí

HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ

(Hồi thứ 14, trích)

Ngô Gia Văn Phái

I. Tìm hiểu chung về văn bản

1. Tác giả

Ngô gia văn phái là một nhóm các tác giả dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai (Hà Tây) – một dòng họ lớn tuổi với truyền thống nghiên cứu sáng tác văn chương ở nước ta.

* Ngô Thì Chí (1753-1788)

– Con của Ngô Thì Sỹ, em ruột của Ngô Thì Nhậm, từng làm tới chức Thiên Thư bình chướng tỉnh sự, thay anh là Ngô Thì Nhậm chăm sóc gia đình không thích làm quan.

– Văn chương của ông trong sáng, giản dị, tự nhiên mạch lạc.

– Viết 7 hồi đầu của Hoàng Lê nhất thống chí cuối năm 1786.

* Ngô Thì Du (1772-1840)

– Cháu gọi Ngô Thì Sĩ là bác ruột.

– Học rất giỏi, nhưng không dự khoa thi nào. Năm 1812 vua Gia Long xuống chiếu cầu hiền tài, ông được bổ làm đốc học Hải Dương, ít lâu lui về quê làm ruộng, sáng tác văn chương.

– Là người viết tiếp 7 hồi cuối của Hoàng Lê nhất thống chí (trong đó có hồi 14).

– Tác phẩm có tính chất chỉ ghi chép sự kiện lịch sử xã hội có thực, nhân vật thực, địa điểm thực.

– Là cuốn tiểu thuyết lịch sử – viết bằng chữ Hán theo lối chương hồi.

– Gồm 17 hồi.

2. Tác phẩm

Tác phẩm là bức tranh hiện thực rộng lớn về xã hội phong kiến Việt Nam khoảng 30 năm cuối thế kỷ XVII và mấy năm đầu thế kỷ XIX, trong đó hiện lên cuộc sống thối nát của bọn vua quan triều Lê – Trịnh.

– Chiêu Thống lo cho cái ngai vàng mục rỗng của mình, cầu viện nhà Thanh kéo quân vào chiếm Thăng Long.

– Người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, lập nên triều đại Tây Sơn rồi mất. Tây Sơn bị diệt, Vương triều Nguyễn bắt đầu (1802).

3. Bố cục

Hồi 14 có thể chia làm ba phần:

– Phần một (từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788)”): Được tin quan Thanh đã chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương lên ngôi hoàng đế và cầm quân dẹp giặc.

– Phần hai (từ “Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh” đến “rồi kéo vào thành”): Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung.

– Phần ba (còn lại): Hình ảnh thất bại thảm hại của bọn xâm lăng và lũ vua quan bán nước.

II. Đọc – hiểu văn bản

1. Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ

– Tiếp được tin báo, Bắc Bình Vương “giận lắm”.

– Họp các tướng sỹ – định thân chinh cầm quân đi ngay; lên ngôi vua để chính danh vị (dẹp giặc xâm lược trị kẻ phản quốc).

Ngày 25-12: Làm lẽ xong, tự đốc suất đại binh cả thuỷ lẫn bộ, đến Nghệ An ngày 29-12.

– Gặp người cống sĩ (người đỗ cử nhân trong kỳ thi Hương) ở La Sơn.

– Mộ thêm quân (3 xuất đinh lấy một người), được hơn một vạn quân tinh nhuệ.

a) Nguyễn Huệ là người bình tĩnh, hành động nhanh, kịp thời, mạnh mẽ, quyết đoán trước những biến cố lớn.

b) Trí tuệ sáng suốt, nhạy bén mưu lược

– Khẳng định chủ quyền dân tộc.

– Nêu bật chính nghĩa của ta – phi nghĩa của địch và dã tâm xâm lược của chúng – truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc ta.

– Kêu gọi đồng tâm hiệp lực, ra kỷ luật nghiêm, thống nhất ý chí để lập công lớn.

Lời dụ lính như một lời hịch ngắn gọn có sức thuyết phục cao (có tình, có lý).

– Kích thích lòng yêu nước, truyền thống quật cường của dân tộc, thu phục quân lính khiến họ một lòng đồng tâm hiệp lực, không dám ăn ở hai lòng.

c) Nguyễn Huệ là người luôn sáng suốt, mưu lược trong việc nhận định tình hình, thu phục quân sĩ.

– Theo binh pháp “Quân thua chém tướng”.

– Hiểu tướng sĩ, hiểu tường tận năng lực của bề tôi, khen chê đúng người, đúng việc.

– Sáng suốt mưu lược trong việc xét đoán dùng người.

– Tư thế oai phong lẫm liệt.

– Chiến lược: Thần tốc bất ngờ, xuất quân đánh nhanh thắng nhanh (hơn 100 cây số đi trong 3 ngày).

– Tài quân sự: nắm bắt tình hình địch và ta, xuất quỷ nhập thần.

– Tầm nhìn xa trông rộng – niềm tin tuyệt đối ở chiến thắng, đoán trước ngày thắng lợi.

d) Là bậc kỳ tài trong việc dùng binh: bí mật, thần tốc, bất ngờ.

Trận Hà Hồi: vây kín làng, bắc loa truyền gọi, quân lính bốn phía dạ ran, quân địch “rụng rời sợ hãi”, đều xin hàng, không cần phải đánh. Trận Ngọc Hồi, cho quân lính lấy ván ghép phủ rơm dấp nước làm mộc che, khi giáp lá cà thì “quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao chém bừa…” khiến kẻ thù phải khiếp vía, chẳng mấy chốc thu được thành.

Bằng cách khắc hoạ trực tiếp hay gián tiếp, với biện pháp tả thực, hình tượng người anh hùng dân tộc hiện lên đẹp đẽ tài giỏi, nhân đức.

– Khi miêu tả trận đánh của Nguyễn Huệ, với lập trường dân tộc và lòng yêu nước, tác giả viết với sự phấn chấn, những trang viết chan thực có màu sắc sử thi.

2. Hình ảnh bọn xâm lược và lũ tay sai bán nước.

a) Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh:

– Không đề phòng, không được tin cấp báo.

– Ngày mồng 4, quân giặc được tin Quang Trung đã vào đến Thăng Long:

+ Tôn Sĩ Nghị sợ mất mặt, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, nhằm hướng bắc mà chạy.

+ Quân sĩ hoảng hồn, tranh nhau qua cầu, xô nhau xuống sông, sông Nhị Hà bị tắc nghẽn.

b) Số phận thảm hại của bọn vua tôi phản nước, hại dân:

– Vua Chiêu Thống vội cùng bọn thân tín “đưa thái hậu ra ngoài”, chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền của dân để qua sông, “luôn mấy ngày không ăn”.

– Đuổi kịp Tôn Sỹ Nghị, vua tôi “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt” đến mức “Tôn Sỹ Nghị cũng lấy làm xấu hổ”.

III. Tổng kết

1. Về nội dung

Với cảm quan lịch sử và lòng tự hào dân tộc, các tác giả đã tái hiện một cách chân thực, sinh động hình ảnh Nguyễn Huệ và hình ảnh thảm bại của quân xâm lược cùng bọn vua quan bán nước.

2. Về nghệ thuật

– Khắc hoạ một cách rõ nét hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ giàu chất sử thi.

– Kể sự kiện lịch sử rành mạch chân thực, khách quan, kết hợp với miêu tả sử dụng hình ảnh so sánh độc lập.