Tìm hiểu Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh

TÌM HIỂU TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH

1/ Tìm hiểu văn chính luận của HCM:
   1.1/ Tác phẩm tiêu biểu:
– Trước CMT8: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925);
– Sau CMT8: Tuyên ngôn độc lập (1945); Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946); Không có gì qúy hơn độc lập tự do (1966).

   1.2/ Đặc điểm phong cách:
– Văn chính luận của HCM thắm đượm tình cảm; giàu hình ảnh; giọng điệu đa dạng: khi ôn tồn, thấu tình đạt lí; khi đanh thép, mạnh mẽ, hung hồn.
– Ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục, giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp.
2/ Tìm hiểu HCST, Đối tượng, mục đích sáng tác, bố cục và mạch lập luận:
Về sự kiện Bác đọc TNĐL, nhà thơ Tố Hữu viết:
Hôm nay, sáng mồng hai tháng chín,
Thủ đô hoa, vàng nắng Ba Đình.
Muôn triệu tim chờ chim cũng nín,
Bỗng vang lên câu hát ân tình:
Hồ Chí Minh ! Hồ Chí Minh !
Người đứng trên đài lặng phút giây,
Trông đàn con đó vẫy hai tay.
Cao cao vầng trán Ngời đôi mắt,
Độc lập bây giờ mới thấy đây !
Người đọc Tuyên ngôn Rồi chợt hỏi:
Đồng bào nghe tôi nói rõ không ?
Ôi ! câu hỏi hơn một lời kêu gọi,
Rất đơn sơ mà ấm bao lòng !
Cả muôn triệu một lời đáp: Có !
Như Trường Sơn say gió biển Đông.
Vâng ! Bác nói, chúng con nghe rõ,
Mỗi tiếng Người mang nặng non sông.
Trời bỗng xanh hơn, nắng chói lòa,
Ta nhìn lên Bác, Bác nhìn ta.
Bốn phương chắc cũng nhìn ta đó,
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa !
                                                   
(Trích trường ca Theo chân Bác – Tố Hữu)
2.1. Hoàn cảnh sáng tác:
– Thế giới:
+ Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc: Hồng quân Liên Xô tấn công vào sào huyệt của phát xít Đức,
+ Nhật đầu hàng Đồng minh
– Trong nước:
+ CMTT thành công, cả nước giành chính quyền thắng lợi.
+ Ngày 26 tháng 8 năm 1945: Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về tới Hà Nội
+ Ngày 28 tháng 8 năm 1945: Bác soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập tại tầng 2, căn nhà số 48, phố Hàng Ngang, Hà Nội.
+ Ngày 2 tháng 9 năm 1945: Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh nước VNDCCH.
2.2/ Viết cho ai?
Tuyên ngôn độc lập viết để hướng tới “đồng bào cả nước”, những người hơn 80 năm qua rên xiết dưới ách xâm lược của TDP và phát xít Nhật, nay khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hang Đồng minh, dưới sự lãnh đạo của VM, đứng đầu là CT HCM, họ đã nổi dậy giành chính quyền trên cả nước vào tháng 8 năm 1945.
– Đối tượng hướng tới của bản TN còn là nhân dân trên toàn thế giới. Phần cuối của tác phẩm, Bác đã viết:”Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước VN DCCH, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:”.
– Hoàn cảnh ra đời của bản TNĐL còn giúp chúng ta nhận thấy một đối tượng hướng đến của tác phẩm là các thế lực thù địch và cơ hội quốc tế đang dã tâm tái nô dịch đất nước ta, đặc biệt là TDP và đế quốc Mĩ. (TNĐL ra đời giữa lúc hai đầu đất nước đều có kẻ thù ngoại bang đe dọa. Phía Bắc là 20 vạn quân Tưởng đang ngấp nghé ở cửa biên giới, chuẩn bị kéo vào miền Bắc nước ta, thay Đồng minh giải giáp quân đội Nhật. Phía sau đội quân “chấy rận” này là sự “ngấp nghé” “nhòm ngó”, muốn can thiệp vào Đông Dương của đế quốc Mĩ. Ở phía Nam, thực dân Anh được giao nhiệm vụ của phe Đồng minh. Nhưng “mâu thuẫn Anh – Mĩ – Pháp là Liên Xô có thể làm cho Anh – Mĩ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương. Nhà cầm quyền Pháp lúc này tuyên bố: Đông Dương là thuộc địa của Pháp, bị quân Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu hàng Đồng minh, đương nhiên Đông Dương phải thuộc quyền “bảo hộ” của Pháp.
 
2.3/ Viết để làm gì? 
Tuyên ngôn độc lập chính là nhan đề văn bản đã cho thấy mục đích hướng đến của tác phẩm là tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới.
– Tương ứng với đối tượng trên, TNĐL còn nhằm mục đích bẻ gãy những luận điệu xảo trá của kẻ thù đang dã tâm nô dịch trở lại đất nước ta. 
– Bày tỏ quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc.
2.4/ Bố cục và mạch lập luận:
a/ Bố cục:
– Phần 1: Từ đầu đến “…không ai chối cãi được”
-> Nêu nguyên lí chung của bản tuyên ngôn độc lập.
– Phần 2: “Thế mà, …. phải được độc lập”
-> Tố cáo tội ác của thực dân Pháp, khẳng định thực tế lịch sử là nhân dân ta đấu tranh giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
– Phần 3: Còn lại
->Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ nền độc lập của dân tộc.
b/ Mạch lập luận:
Mục đích của TNĐL không phải chỉ để tuyên bố mà còn phải “đánh địch”, bẻ gãy những luận điệu xảo trá của kẻ thù. Vì vậy bản TNĐL trước hết phải xác định cơ sở pháp lí, điểm tựa vững chãi, thuyết phục cho mạch lập luận ngay từ phần mở đầu. Đây sẽ là căn cứ thống nhất để vạch tội kẻ thù, chỉ ra tính chất phi nghĩa của chúng, đồng thời cũng là cơ sở để khẳng định tính chính nghĩa thuận theo “lẽ phải” của ta (phần nội dung). Từ đó mới đanh thép, hùng hồn khẳng định xóa bỏ chế độ quân chủ, “tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam” -> Mạch lập luận thuyết phục người đọc ở tính logic chặt chẽ: từ cơ sở lí luận đối chiếu vào thực tiễn, rút ra kết luận phù hợp, đích đáng không thể không công nhận.
Cách lập luận như trên chúng ta đã từng bắt gặp trong bản “TNĐL lần hai” của dân tộc – Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi). Trước khi lời “đại cáo” (báo cáo rộng khắp) cất lên cho ai nấy đều hay, điểm tựa lí luận quán xuyến được tác giả đặt ra là:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Từ “nguyên lí” chung đó, giặc minh trở thành kẻ  Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế – Gây binh kết oán trải hai mươi năm, còn quân ta trong tư thế Đem đại nghĩa để thắng hung tàn – Lấy chí nhân để thay cường bạo.

 

3/ Phân tích tuyên ngôn độc lập
3.1/ Phần mở đầu – Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn độc lập:
– Mở đầu bằng cách trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ làm cơ sở pháp lí:
+ Tuyên ngôn độc lập của Mỹ:
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
+ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791:
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.”
– Ý nghĩa:
+ Vừa khôn khéo: Tỏ ra tôn trọng những tuyên ngôn bất hủ của cha ông kẻ xâm lược vì những điều được nêu là chân lí của nhân loại
+ Vừa kiên quyết: Dùng lập luận Gậy ông đập lưng ông , lấy chính lí lẽ thiêng liêng của tổ tiên chúng để phê phán và ngăn chặn âm mưu tái xâm lược của chúng. 
+ Ngầm gửi gắm lòng tự hào tự tôn dân tộc: đặt ba cuộc cách mạng, ba bản tuyên ngôn, ba dân tộc ngang hàng nhau. Thế kỉ thứ XV trong  Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã sử dụng cấu trúc đăng đối, cân xứng để khẳng định tầm vóc của dân tộc mình: Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập – Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương. Nay trong bản TNĐL của HCM, cuộc vùng dậy phá tan xiềng xích của dân ta giành quyền làm người trong một đất nước có chủ quyền được sánh với những cuộc CM của các dân tộc thuộc địa Bắc Mĩ đấu tranh thoát khỏi ách thực dân Anh, cuộc CM Dân quyền và Nhân quyên của Pháp cuối thế kỉ XVIII.
– Trích dẫn sáng tạo:
+ Từ quyền bình đẳng, tự do, mưu cầu hạnh phúc của con người (tuyên ngôn của Mĩ và Pháp)
+ Bác suy rộng ra, nâng lên thành quyền bình đẳng, tự do của các dân tộc trên thế giới à Đó là suy luận hợp lí, sáng tạo, là đóng góp quan trọng nhất trong tư tưởng giải phóng dân tộc của Bác, là phát súng lệnh cho bão táp cách mạng ở các nước thuộc địa.
=> Hồ Chí Minh mở đầu bản tuyên ngôn thật súc tích, ngắn gọn, lập luận chặt chẽ, cách trích dẫn sáng tạo để đi đến một bình luận khéo léo, kiên quyết: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Cụm từ “không ai chối cãi được” rõ ràng
mang tính tranh biện, luận chiến. Đó là kết quả của sự nhạy cảm chính trị thiên tài ở một nhà CM lỗi lạc. Gắn với hoàn cảnh ra đời của  bản TN, từ sự phân tích tình hình thực tiễn, người viết đã tiên cảm thấy có những kẻ đang có tình toan tính âm mưu “chối cãi”, chà đạp lên “lẽ phải”. Kẻ đó là TDP với luận điệu xảo trá, lừa bịp dư luận thế giới để quay lại đặt ách nô dịch. Kẻ đó là đế quốc Mĩ đang núp sau lưng quân Tưởng âm mưu nhòm ngó, can thiệp sâu vào Đông Dương.
 
3.2/ Nội dung – Cơ sở thực tế của bản tuyên ngôn độc lập:
  a. Tố cáo tội ác của thực dân Pháp:
 – Câu mở đầu đoạn 2: 
Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta.” -> Câu chuyển tiếp, tương phản với các lí lẽ của đoạn 1: thực dân Pháp đã phản bội lại tuyên ngôn thiêng liêng của tổ tiên chúng, phản bội lại tinh thần nhân đạo của nhân loại.
– Pháp kể công “khai hóa”, Bác đã kể tội chúng trên mọi phương diện:
+ Về chính trị: không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào, thi hành luật pháp dã man,  chia rẽ dân tộc, tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu
 + Về kinh tế: Cướp không ruộng đất, hầm mỏ; độc quyền in giấy bạc, xuất cảng, nhập cảng; đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí.
+ Văn hóa – xã hội – giáo dục: lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thi hành chính sách ngu dân, đầu độc dân ta bằng rượu cồn , thuốc phiện
->  Biệp pháp liệt kê + điệp từ chúng + lặp cú pháp + ngôn ngữ giàu hình ảnh + giọng văn hùng hồn đanh thép à nổi bật những tội ác điển hình, toàn diện, thâm độc, tiếp nối, chồng chất, khó rửa hết của thực dân Pháp.
– Pháp kể công “bảo hộ”, bản tuyên ngôn lên án chúng:
+ “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật.”
+ “Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng.”
+ Vậy là trong 5 năm, chúng bán nước ta hai lần cho Nhật.
+ Hậu quả: làm cho “hơn hai triệu đồng bào của ta bị  chết đói”
+ Ngược lại, Việt Minh đã cứu giúp nhiều người Pháp, bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
– Pháp nhân danh Đồng minh tuyên bố Đồng minh đã thắng Nhật, chúng có quyền lấy lại Đông Dương, tuyên ngôn chỉ rõ:
+ Chính pháp là kẻ phản bội lại Đồng minh, hai lần dâng Đông Dương cho Nhật.
+ Không hợp tác với Việt Minh chống Nhật mà trước khi thua chạy, Pháp còn “nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.”
+ “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa.”
+ Nêu rõ thắng lợi của cách mạng Việt Nam:
   o “Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.”
   o “Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.”
-> Bác bỏ luận điệu xảo trá, lên án tội ác dã man của Pháp, khẳng định vai trò của CM vô sản Việt Nam và lập trường chính nghĩa của dân tộc.
  b. Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc:
– Ba câu văn ngắn gọn vừa chuyển tiếp vừa khẳng định:
+ Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị .
+ Dân ta  đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay.
+ Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ.
->  Sự ra đời của nước Việt Nam mới như một tất yếu lịch sử.
Dùng từ ngữ có ý nghĩa phủ định tuyệt đối để tuyên bố: “thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.”
->  Không chịu sự lệ thuộc và xóa bỏ mọi đặc quyền của Pháp về nước Việt Nam (Đây là lời tuyên bố vô cùng tinh tế, sâu sắc và chặt chẽ: Chỉ xóa bỏ các quan hệ thực dân với Pháp chứ không xóa bỏ những quan hệ tốt đẹp, hữu nghị. Chỉ xóa bỏ những hiệp ước mà Pháp đã kí về đất nước Việt Nam, không phải là kí với đất nước Việt Nam).
– Căn cứ vào những điều khoản quy định về nguyên tắc dân tộc bình đẳng tại hai Hội nghị Tê – hê – răng và Cựu Kim Sơn để buộc các nước Đồng minh: “quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.”
Khẳng định về quyền độc lập tự do của dân tộc: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”
-> Sự thật và nguyên tắc không thể chối cãi, phù hợp với thực tế, đạo lí và công ước quốc tế.
=> Kiểu câu khẳng định, điệp từ ngữ, song hành cú pháp… tạo nên âm hưởng hào hùng, đanh thép, trang trọng của
đoản khúc anh hùng ca.

3.3/ Kết thúc – Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ độc lập dân tộc:
Tuyên bố với thế giới về nền độc lập của dân tộc Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập.”
-> Những từ ngữ trang trọng: “trịnh trọng tuyên bố”, “có quyền hưởng”, sự thật đã thành” vang lên mạnh mẽ, chắc nịch như lời KĐ một chân lí.
Bày tỏ ý chí bảo vệ nền độc lập của cả dân tộc: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”
-. Lời văn đanh thép như một lời thề, thể hiện ý chí, quyết tâm của cả dân tộc.
 
3.4/ Cảm xúc, tâm tư, tình cảm của Bác Hồ ẩn chứa trong tác phẩm:
Tuyên ngôn độc lập ra đời là một trong những niềm xúc động, hạnh phúc lớn lao nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của HCM như có lần Người từng tâm sự. Phía sau những lập luận chặt chẽ, sắc sảo, đanh thép, đầy tính đối thoại, xác định giá trị pháp lí của chủ quyền dân tộc, là dòng cảm xúc, tình cảm của người viết Tuyên ngôn. Bởi lẽ những lời tuyên bố trang trọng trên Quảng trường Ba Đình lịch sử hôm nay cho toàn thể dân tộc Việt Nam và nhân dân thế giới là kết quả bao nhiêu máu đã đổ của các chiến sĩ trên chiến trường, trong trại tập trung, trên máy chém, bao nhiêu tính mạng đồng bào đã hi sinh. Mỗi dòng chữ là chan chứa niềm tự hào khi sánh CM dân tộc  với những cuộc CM lớn trên thế giới. Mỗi dòng chữ là một niềm hạnh phúc vô biên khi đất nước đã được tự do, độc lập. Mỗi dòng chữ cũng là những đau đớn, nhức nhối khi nhìn lại bao rên xiết lầm than của nhân dân trong suốt hơn 80 năm qua dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Tuyên ngôn độc lập kết tinh quyết tâm, ý chí sắt đá của toàn dân tộc điệp đi nhấn lại như một lời thề sắt đá: “Toàn thể dân tộc VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Và như vậy, sức thuyết phục của áng văn chính luận đối với người đọc không chỉ ở hệ thống lập luận sắc sảo, mẫu mực của nó, mà còn ở tình cảm chan chứa, sâu sắc của tác giả.
 
3.5/ Nghệ thuật:
Là áng văn chính luận mẫu mực, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của Bác:
– Lập luận: chặt chẽ, thống nhất từ đầu đến cuối (dựa trên lập trường quyền lợi tối cao của các dân tộc)
– Lí lẽ: xuất phát từ tình yêu công lí, thái độ tôn trọng sự thật, dựa vào lẽ phải và chính nghĩa của dân tộc.
– Dẫn chứng: xác thực, lấy ra từ sự thật lịch sử
– Ngôn ngữ: đanh thép, hùng hồn, chan chứa tình cảm, cách xưng hô bộc lộ tình cảm gần gũi.
 TC: Lòng yêu nước thương dân nồng nàn, sâu sắc.
4/ Tổng kết:
– TNĐL là 1 văn bản ngắn gọn khúc chiết khẳng định quyền tự do bất khả xâm phạm của d/t VN; có tính chiến đấu cao
đập tan luận điệu của kẻ thù xâm lược nước ta. 
– TNĐL t.hiện tầm tư tưởng ; tầm văn hoá lớn của tư tưởng y/n & căm thù giặc s/ sắc của HCM, xứng đáng là một bản hùng văn của dân tộc ta.                            

           
* Những ý kiến nhận xét rất hay về Tuyên ngôn độc lập:
1/ Nhà Văn Nguyễn Công Hoan: “Với một nội dung ngắn gọn, súc tích được thể hiện bằng thể văn chính luận mẫu mực, sâu sắc, lập luận chặt chẽ lí lẽ sắc sảo mà vẫn dung dị, gần gũi, thuyết phục, đi sâu vào lòng người. Tuyên ngôn độc lập của HCM thực sự là một văn kiện lịch sử vô giá, một bản anh hùng ca cách mạng của dân tộc ta, đất nước
ta”.
2/ Nhà sử học Dương Trung Quốc: “Tuyên ngôn độc lập Việt Nam không chỉ là tấm giấy khai sinh cho một nhà nước Việt Nam theo thể chế Dân chủ – Cộng hòa và theo đuổi mục tiêu Độc lập –Tự do – Hạnh phúc mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại bằng một sự “suy rộng ra” thành một chân lí mang tầm thời đại”. 
 
3/ Giáo sư Trần Trọng Đăng Đàn: “Rất giản dị mà lại rất vững chãi” . Giản dị vì ai cũng hiểu. Vững chãi vì không ai bẻ được, vì nó lấy thực tế sôi bỏng của cách mạng làm cốt lõi, vì nó bắt nguồn từ lòng yêu thương kính trọng quần chúng, nhân dân”.
4/ Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh: “Tài nghệ ở đây là đã dàn dựng một lập luận chặt chẽ, đưa ra những luận điểm, những bằng chứng không ai chối cãi được. Và đằng sau lí lẽ ấy là một tầm tư tưởng, tầm văn hóa lớn đã tổng kết được trong một văn bản ngắn gọn, trong sáng, khúc cfiết, kinh nghiệm của nhiều thế kỉ đấu tranh giành độc lập, tự do, vì nhân quyền, dân quyền của dân tộc, nhân loại”.